Bệnh Tâm Trí

Cuộc hành trình nào cũng bắt đầu với từng bước nhỏ

Bệnh Alzheimer

Bệnh mất trí nhớ (dementia) có nhiều loại khác nhau như Alzheimer, tai biến mạch máu não cực nhỏ, Lewy bodies gây mất trí nhớ, và mất trí nhớ do khu vực frontal-temporal bị xói mòn.  Hôm nay, tôi chỉ nói riêng bệnh Alzheimer và sẽ nhắc sơ các bệnh khác khi chúng có liên quan đến các triệu chứng tâm trí.

Bệnh Alzheimer là bệnh thông thường nhất trong các loại bệnh mất trí nhớ.  Bệnh này thường xảy ra cho các vị cao niên.  Tuy nhiên, nó cũng có thể xuất hiện trong khoảng trung niên nhưng chủ yếu do bệnh di truyền mà tôi sẽ nhắc sau.  Tuổi tác là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến bệnh này.  Tuổi càng lớn thì sáp xuất càng cao.  Theo các nghiên cứu thì hàng năm, tỉ lệ bệnh Alzheimer vào khoảng

  • 0.6% cho người tuổi từ 65-69
  • 1% cho tuổi từ 70-74
  • 2% cho tuổi từ 75-79
  • 3.3% cho tuổi từ 80-84
  • 8.4% cho trên 85 tuổi

Ngoài tuổi tác ra, các yếu tố khác như bệnh cao huyết áp, tiểu đường, cao mỡ và hút thuốc thường tăng thêm sáp xuất dẫn đến bệnh Alzheimer.  Có vài cuộc nghiên cứu gợi rằng bệnh trầm cảm có thể là một nguy cơ đưa đến bệnh này.  Quan hệ huyết thống trực tiếp (cha mẹ, anh em có bệnh này) tăng sáp xuất bị bệnh lên 10-30%. Bệnh Alzheimer cũng có thể xuất hiện trong khoảng tuổi 30-50, và thường thì do di truyền hoặc các bệnh liên quan đến sự phát triển của não.

Bệnh này có 2 nguyên do.  Thứ nhất, chất đạm beta-amyloid bị đóng lại trong não gây ra cái chết của các tế bào não.  Thứ hai, chất đạm tau làm cho các tế bào não xoắn và đóng lại rồi chết.

Theo di truyền thì sự biến động trong gene của chất dẫn đến chất đạm amyloid (tiền amyloid) trong nhiễm sắc thể 21, gene của presenilin 1 và 2 trong các nhiễm sắc thể 14 và 1.  Nếu có 3 nhiễm sắc thể 21 (triosomy 21) thì sẽ đưa đến bệnh Down (Down syndrome) và những người này thường bị Alzheimer khoảng tuổi 40.  Chất đạm Apolipoprotein E (ApoE) giúp bảo vệ và sửa chữa các tế bào não.  Biến động gene của chất này cũng có thể sẽ gây ra bệnh Alzheimer.

Triệu chứng:

  • Mất trí nhớ.  Thường là bắt đầu quên các dữ liệu, thời gian, hoặc sự kiện như là quên cuộc hẹn với bác sĩ.  Người bệnh thường quên những thứ linh tinh như là chìa khóa, quên tắt lửa.  Nặng hơn thì quên đường về nhà hoặc quên tên con cái.
  • Gặp khó khăn trong các sinh hoạt mà họ có thể làm trước đây như tính toán, trả tiền bill hàng tháng, lên kế hoạch, quên luật chơi của các trò chơi thông thường.
  • Mơ hồ hoặc nhầm lẫn về khái niệm thời gian và nơi chốn.  Ví dụ như không biết bây giờ là năm nào, tháng nào hoặc không biết tại sao mình lại đến chổ này.
  • Gặp khó khăn trong đoán khoảng cách, màu sắc, đồ vật, không gian, và đọc, viết (khó khăn trong ngôn ngữ như muốn diễn tả một điều gì hay cảm giác gì đó ).
  • Có những hành động và phán quyết sai lầm
  • Thay đổi tính tình, cáu kỉnh, bực bội, nghi ngờ, sợ sệt.  Nếu triệu chứng này xuất hiện trước hoặc khoảng 50 tuổi thì có thể bị bệnh mất trí nhớ do khu vực frontal-temporal bị xói mòn.
  • Cô lập, không muốn giao lưu với người thân hay quen.
  • Thời kì nặng thì đôi khi bị ảo tưởng, ảo giác.  Khoảng 30% bệnh nhân có triệu chứng này.  Thường thì họ nghi ngờ người phối ngẫu có ngoại tình.  Họ nghi ngờ gia đình đầu độc hay hại mình hoặc họ sợ sẽ bị ai đó bên ngoài đang theo dõi và hại mình.
  • Nếu có ảo giác thị giác (tức là thấy người hoặc vật mà không ai khác thấy) thì có thể liên hệ đến bệnh mất trí nhớ do Lewy bodies.
  • Khoảng 15-25% bệnh nhân có những hành động không thích hợp liên quan đến sinh dục
  • Vào thời kì cuối có thể quên mặt con cái.

Nếu chúng ta có vài triệu chứng trên thì nên đi tìm các bác sĩ gia đình để được theo dõi và chuẩn đoán.  Bệnh Alzheimer chỉ biết chắc chắn khi mình chết rồi và người ta lấy cái não mình ra phân tách mà thôi.  Do đó, bệnh này chỉ được chuẩn đoán qua nhiều cuộc xét nghiệm và phỏng vấn bệnh nhân và gia đình.  Bác sĩ sẽ lấy máu và chụp hình não để loại ra các bệnh khác có thể gây ra triệu chứng giống như Alzheimer.  Ví dụ như tai biến mạch máu não cực nhỏ (li ti), thiếu vitamin B12, suy tuyến giáp, bệnh giang mai, HIV, v.v.  Thiếu vitamin B1 do nghiện rượu lâu dài cũng gây ra triệu chứng mất trí nhớ trầm trọng.  Chúng ta dù trẻ hay già đều có lúc hay quên vặt.  Do đó, chỉ quên vài thứ linh tinh chưa phải là bị bệnh Alzheimer.

Bệnh trầm cảm thường đi đôi với bệnh Alzheimer, khoảng 50% bị bệnh trầm cảm.  Đôi khi, chỉ riêng bệnh trầm cảm thôi làm cho người ta hiểu lầm là bị bệnh Alzheimer vì triệu chứng cho người già trong hai bệnh này khá giống nhau.  Nhiều người sau khi chữa trị bệnh trầm cảm thì thấy tinh thần và trí nhớ khá ra hẳn.

Điều trị:

  • Thuốc: có vài loại thuốc cầm cự cho sự thoái hóa của bệnh này nhưng không thể chữa hẳn.  Hiện nay, chưa có một phương pháp nào trị bệnh này cả vì khi tế bào não chết rồi thì khó làm sống lại.  Tuy nhiên, có rất nhiều cuộc nghiên cứu đang được tiến hành để tìm cách chữa.  Ngành tế bào phôi có thể mang lại chút hi vọng.
  • Tâm lý trị liệu: giúp người bệnh và gia đình học cách để đối phó với các cảm giác lo sợ, buồn rầu, nóng giận, căng thẳng, ảo tưởng, mất ngủ, v.v.  Xin hãy đọc bài “Cách chăm sóc và giúp đỡ người bệnh Alzheimer“ để hiểu thêm.
  • Cách tốt nhất là phòng bệnh:
    • Chúng ta nên tập thể dục, ăn uống điều độ và lành mạnh.  Tuyệt đối không nên hút thuốc và rượu chè quá trớn.  Uống 1 ly rượu nhẹ mỗi ngày có lợi cho sức khỏe một chút (tôi không khuyên quí vị đi uống rượu mỗi ngày), nhưng uống nhiều gây ra ghiền thì càng hại.
    • Nên tiếp tục giao lưu với người thân và bạn bè.  Hãy làm việc (thiện nguyện càng tốt) hoặc tiếp tục các hoạt động kích thích cơ thể và não bộ như đi bộ, chạy bộ, đánh cờ, đọc sách báo, v.v.
    • Hệ tiêu hóa của người già hấp thụ kém hơn người trẻ cho nên đôi khi thiếu các vitamin.  Nên uống thuốc multi-vitamins để cân bằng.  Chỉ cần uống 1 viên 1 ngày là đủ trừ khi có sự hướng dẫn đặc biệt của các bác sĩ.
  • Các thuốc thực phẩm phụ: Có nhiều loại thuốc thực phẩm khác được bào chế và quảng cáo là giúp trong bệnh Alzheimer.  Tuy nhiên, các thực phẩm phụ này không phải trải qua những điều kiện khắc khe trong phần kiểm duyệt và tiến hành trong các nghiên cứu.  Do đó, các phản ứng, ảnh hưởng lâu dài hoặc tính hiệu quả của nó không được biết rõ.
    • Mỡ Omega-3: một vài loại mỡ Omega-3 được nghiên cứu và kết luận rằng giúp giảm nguy cơ bị đột trụy tim hoặc tai biến mạch máu não.  Có 2 công trình nghiên cứu lớn khác công cố kết quả năm 2009 gợi ý rằng mỡ Omega-3 DHA có thể giúp bệnh nhân Alzheimer, nhưng kết quả rất là khiêm tốn và đòi hỏi thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định.
    • Caprylic acid: được quảng cáo là “thực phẩm phụ cho bệnh” (medical food).  Nó là một loại mỡ trong quá trình phân hóa dầu trong dừa.  Loại này chỉ được nghiên cứu trong giai đoạn 2.  Cần phải được nghiên cứu thêm trong giai đoạn 3 (tức là với hàng ngàn người) thì mới biết rõ.  Hiện tại thì chưa có một công bố của một cuộc nghiên cứu nghiêm túc nào về chất này.
    • Coenzyme Q10: là một loại chống oxy hóa.  Trong cơ thể có các phân tử oxy đơn (lẻ loi) dễ gây ra các sự đột biến của gene và chết các tế bào.  Người ta nghĩ rằng với các chất chống oxy hóa thì nó sẽ trung hòa các phân tử oxy đơn này.  Không có một nghiên cứu nghiêm túc nào chứng minh ảnh hưởng của Coenzyme Q10 trong Alzheimer cả.  Quí vị ăn nhiều trái cây hoặc uống nước cam cũng sẽ có dư các chất chống oxy hóa.
    • Coral calcium: chất calcium lấy từ trong các san hô.  Nó được quảng cáo là có thể giúp chữa Alzheimer, ung thư và một số bệnh nghiêm trọng khác.   Không có một nghiên cứu nghiêm túc nào chứng minh ảnh hưởng của chất này.
    • Gingkgo boliba: là một chất lấy từ trong cây lá quạt (cây bạch quả), có lâu đời trong thuốc Đông y.  Hiện đang được dùng bên Châu Âu để tăng trí nhớ.  Tuy nhiên, có cuộc nghiên cứu lớn không tìm thấy sự hiệu quả của nó.
    • Huperzine A: là một chất từ trong rêu, được dùng trong Đông y khá lâu.  Nó có các đặc tính giống như một trong các loại thuốc trị Alzheimer.  Nhưng nghiên cứu lớn thì không chứng minh được sự hiệu quả của nó.  Bây giờ, thuốc này không được quản lý nên dùng nó có thể gây ra các phản ứng mà mình chưa biết.
    • Phosphatidylserine: chất này là một loại mỡ trong tế bào não.  Người ta nghiên cứu chất này lấy từ trong não con bò.  Lúc đầu, có những kết quả khả quan và hi vọng.  Tuy nhiên các nghiên cứu với số lượng người tham gia quá nhỏ.  Các cuộc nghiên cứu bị chấm dứt hẳn khi có dịch bệnh Bò Điên trong thập niên 90.  Bây giờ, nó chỉ được lấy trong sữa đậu nành (hoặc tương).
    • Tramiprosate: đây là một chất tương tự như một chất amino acid, một thành tố căn bản trong việc hình thành các chất đạm trong cơ thể.  Lúc đầu, tham vọng của nhà sản xuất là biến chất này thành thuốc trong toa bác sĩ.  Nó đã trải qua giai đoạn 3, nhưng kết quả của nó không hiệu quả.  Nhà sản xuất đã cố gắng thử nghiệm thêm để có kết quả tốt hơn để được duyệt qua bởi Hiệp Hội Quản Lý Thuốc và Đồ Ăn (U.S Food and Drug Administration).  Sau đó, nhà sản xuất quyết định bỏ tham vọng thành thuốc và chuyển sang thị trường trên mạng (Internet) với nhãn hiệu “thực phẩm phụ cho bệnh” (medical food).

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>